Thứ Sáu, 5 tháng 5, 2017

Trải nghiệm và đánh giá Magnepan 1.7

Bù lại, tôi có cơ hội thưởng thức dải trung âm tuyệt vời, kết hợp giữa sự trong trẻo, tổng quát của Magnepan một.7 với độ ngọt ngào, truyền cảm và có phần lịch lãm trong âm thanh của Amply đèn E40a. Đĩa hits của nữ danh ca huyền thoại model country & blue Patsy Cline (HDCD) khiến người nghe mê mẩn. Vượt lên trên các đuối tố kỹ thuật, Magnepan 1.7 thuyết phục người sử dụng khi tái hiện giọng hát của ca sĩ cực “chuẩn”. Những ca khúc buồn làm nên tên tuổi của nữ ca sĩ tài hoa, nhưng bạc mệnh Patsy Cline như: Crazy, I Fall to Piece, She’s Got You, Why Can’t He Be You… vang lên thổn thức, đầy xúc cảm. 





Chỉ bằng ngôn ngữ của âm nhạc, những người ko rành lời bài hát cũng có khả năng cảm nhận được trái tim của Patsy Cline đang rung lên vì mộng tình tan bể. Chuyển sang đĩa nhạc tổng hợp các giọng ca kinh điển mang tên Female Audiophile. Thêm 1 lần nữa tôi bị thuyết phục hoàn toàn bởi khả năng tái hiện giọng ca qua trung âm đầy biểu cảm. Tất nhiên, màn trình diễn thành công của hệ thống ko thể bỏ qua sự góp sức của hai chất liệu đước Đánh giá cao là SFCD-1 của Sonic Frontier và Rogers E40a. Từ nguồn phát đến nâng thêm âm đều áp dụng bóng đèn, nên hệ thống có trung âm mang vẻ đẹp của âm thanh analog là điều dễ hiểu. Bản A lover in Berlin do Kari Bremnes lột tả đầy mê hoặc, đặc biẹt tiếng ghi-ta bass khá dày và nảy, tạo nên nền âm ấm, ngọt cho bài nhạc. Giọng ca của Kari (cũng như các giọng vocal khác khi diễn đạt trên Magnepan một.7) nằm ở vị trí khá cao, cách mặt sàn một,6-1,8m, cho cảm xúc ca sĩ đang diễn tả qua Magnepan 1.7 dày dặn, nhưng uyển chuyển, âm thanh có nội lực, phát ra từ lồng ngực của ca sĩ. bộ nhớ rộng, độ cụ thể cao là lợi thế của Magnepan một.7 khi lột tả tiếng đàn piano – nhạc cụ được cho là khó tái hiện nhất đối với các hệ thống âm thanh. Ở các bản sonata của List, Haydn hoặc Mendeissohn… 





Các nốt trung và cao có độ dày, mọng và ngọt với độ vang vừa đủ, nốt trầm hoặc bè trầm có độ rõ ràng cần thiết, không bị dính. 1 lần nữa. Magnepan 1.7 lại cho tôi cảm xúc nghe nhạc sống với các bản piano. không dừng ở đó, những bản song tấu, tam-tứ tấu giữa các nhạc cụ violin-cello-piano là thế mạnh ưu trội của Magnepan 1.7, mang lại âm thanh sống động, biến hóa và kịch tính khiến người chơi chỉ yêu thích hết bản này sang bản khác.Magnepan 1.7 là đôi loa thích hợp cho những đôi tai khó tính, những audiophile luôn đòi hỏi sự tuyệt đẹp nhưng ko muốn chi nhiều tiền. Magnepan 1.7 thỏa màn người dùng bởi độ trung thực, sống động và kịch tính trong âm thanh của nó. Đến thời điểm để các audiophile dấn thân vào những trải nghiệm mới, lạ với những mẫu hàng mang giá trị, phát kiến công nghệ thật sự, góp phần tạo vẻ đẹp cho nền công nghiệp âm thanh vốn bị mang tiếng là “già” cỗi và ko chịu đổi mới “bấy lâu nay”.


Xem thêm tại : 

amthanhhifi.com   audiohanoi.com   audiohanoihifi.com

DSD nhanh hơn gấp nhiều lần so với CD

hiện giờ, tần số lấy loại của các file định dạng PCM có khả năng lên đến 352,8kHz hay hơn nữa tuy nhiên, các đầu DAC thường chỉ tối ưu ở mức 192kHz. Trên máy tính, thông thường có thể nhìn PCM dưới định dạng WAV, FLAC, AIFF, M4A. Chuẩn DSD có thể lấy mẫu lên rất cao 2.8224MHz (2.822,400 mẫu/giây). Khả năng lấy mẫu của DSD nhanh hơn gấp 64 lần so với CD nhưng độ dài seri chỉ là một bit. Nếu bit Đó là 1 thì biên độ tín hiệu nâng thêm dần, bit là 0 thì biên độ tín hiệu giảm dần. Tất cả các sóng âm nhạc được mã hóa thành các xung 0 và một có mật độ khác nhau để mô phỏng tạo các sóng SIN analog. Khi được lưu trữ trong máy tính, DSD có dạng file là *.DFF hoặc *.DSF.





Ngoài tỉ lệ lấy dòng 2.8224Mhz trước đây thì với sức mạnh tính toán hiện giờ, DSD cho phép lấy loại hay hơn gấp 2, nghĩa là mức lấy mẫu sẽ là năm.6448 Mhz , và một số bản ghi âm đã được thực bây giờ tần số lấy mẫu đó. cặp khi chúng ta có khả năng thấy DSD được ghi là DSD64 hoặc DSD128 (hay còn gọi là Double DSD), các số 64 và 128 được xem là bội số so với % sản phẩm của CD (44.1khz). 1 số DAC bây giờ thậm chí có khả năng chơi các file DSD lấy mẫu tại 12.288Mhz tương đương DSD256 như xaSound Audio e20 Mk III hay Antelope Audio Platinum DSD, tuy nhiên các bản thu được ghi âm ở tần số lấy loại trên có thể nói là cực hiếm gặp. Tuy nhiên, với sự đổi mới công nghệ thường ngày trong những năm gần đây thì việc công nghệ ghi âm tiến đến chuẩn DSD256 là rất gần. Ưu thế định dạng DSD Các loại thu âm đã đưa ra phương pháp/ ghi và phát lại tại chuẩn PCM ở độ phân giải rất cao và âm thanh của họ cũng đã rất tốt. Do vậy, tại sao chúng tại lại cần một chuẩn định dạng khác có tên DSD. Câu trả lời hợp lí duy nhất Đó là DSD có chất lượng cao hơn PCM. Do đó vì sao DSD lại có khả năng cho cao cấp trình diễn tốt hơn chuẩn PCM? Câu trả lời ko phải ở vấn đề mã hóa khi thu âm mà nằm ở qua trình giải mã âm thanh khi phát. Nhìn về khía cạnh kỹ thuật thì định dạng PCM cần 1 bộ lọc phức tạp để có khả năng tái tạo lại sóng âm thanh tốt hơn, nếu tần số lấy mẫu càng cao thì bộ lọc sẽ càng “nhẹ” hơn. so với DSD do bản chất có mức tần số lấy seri rất cao nên chỉ cần áp dụng các bộ lọc đơn giản ở mức tần số thấp, tương tự như các bộ lọc trong phân tần của loa. Giảm thiểu được mức độ lọc sẽ ít làm sai biệt âm thanh đối với bản gốc hơn.




 Chuẩn DoP (DSD-Over-PCM) Các hệ điều hàng của Microsoft Windows và Apple MAC OS chỉ có khả năng phát lại âm thanh thông qua định dạng PCM. do vậy để phát lại 1 tập tin DSD mà ko chuyển đổi thành PCM là một vấn đề cần phải được Khắc phục. 1 nhóm các chuyên gia đã nghĩ ra một cách đánh lừa hệ thống máy tính để PC có thể phát được DSD ở định dạng gốc mà ko phải chuyển đổi. phương thức/ này được gọi là DoP(DSD-Over-PCM). Để chơi DSD (không chuyển đổi thành PCM) chúng ta cần có một DAC và một máy tính thích hợp. Phần mềm máy tính cần phải đọc được các tập tin DSD ở dạng dữ liệu, sau đó chuyển đổi thành DoP rồi gửi đến DAC. DAC phải nhận tín hiệu DoP và chuyển đổi nó ra tín hiệu âm thanh analog và phát ra hệ thống audio của chúng ta.


Xem thêm tại : 

amthanhhifi.com   audiohanoi.com   audiohanoihifi.com

Varidig Sextex được audiophile quốc tế đánh giá cao

Đặc biệt là các seri dây interconnect Sarka, Indra… sử dụng kim loại amorphous quý hiếm cho quá trình truyền dẫn giới hạn với cấu trúc phân tử như kim dòng ở thể lỏng. Trong đó, dòng digital là seri cáp chủ lực của Stealth loại được mua nhiều với mẫu Varidig Sextex. Bắt nguồn từ triết lý sử dụng song song và hợp tác nhiều chip giải mã DAC trong những đầu đọc tham chiếu, Sealth sở hữu cho Varidig Sextex 6 dây đồng trục bện xoắn, riêng phần giữa trống được gia cố bằng chất liệu Kevlar. Mỗi dây đơn tương đương cấu trúc của một dây Varidig (dòng cáp thấp hơn Varidig Sextex). 




Sealth còn sở hữu triết lý đặc biệt ở lớp Teflon cách điện khi bề ngoài lớp vỏ có độ dày ko đồng đều: dày ở giữa và mỏng dần ra hai đầu. ngoại hình này giúp trở kháng của dây hòa hợp và đồng nhất với độ chính xác cao, tránh nhiễu xung đột giữa các tín hiệu digital khi truyền dẫn. thế hệ Varidig Sextex mới nhất sử dụng đầu jack phủ sợi các-bon chất lượng và sử dụng Teflon đặc biệt để cách điện. không có đối thủ trong tầm giá, Varidig Sextex được audiophile Quốc tế Nhận xét hay hơn các dòng cáp digital có giá bán gấp 2-3 lần! Chúng tôi sử dụng bộ cơ – D/A tham chiếu của Accustic Arts với nhiều loại cáp có cùng tầm giá hay tốt hơn, nhưng hệ thống nguồn vẫn tỏ ra hơi “lạnh” ở dải cao, ở dải trầm khi xuống thấp vẫn còn độ rung. Song khi có sự góp mặt của Varidig Sextex, hệ thống trở nên nhuyễn hơn rất nhiều từ dải trung đến dải cao. có thể nói, tiếng cymbal vừa có độ động, vừa rung mềm mại đầy cuốn hút. 




Hơn thế, Varidig Sextex còn có thể thiết lập/ độ động vốn có của bộ cơ. Việc sử dụng song song nhiều lõi đồng trục giúp truyền tải nhanh, chính xác tín hiệu digital, mang lại những bản giao hưởng với độ động thích hợptương thích, chi tiết, đặc biệt là dải trầm sâu và dứt khoát. – Giá tham khảo: 2700USD (S/PDIF); 3600USD (AES/EBU) Ưu điểm – Độ động cao – Âm thanh dứt khoát, âm trung và âm cao rõ âm, mềm mại. yếu điểm – Vỏ ngoài màu trắng dễ bám bẩn – Giắc RCA có bề ngoài đặc biệt với lõi có gờ xoắn. Teflon chặt, nên cần sử dụng lực khá mạnh khi cắm vào nhân tố phối ghép/. ba.Nordost ODIN Digital có thể ko cần nói nhiều đến dòng cáp ODIN, bởi dòng sản phẩm đầu bảng của Nordost thường được sử dụng cho những hệ thống âm thanh tham chiếu hàng đầu thế giới.


Xem thêm tại : 

amthanhhifi.com   audiohanoi.com   audiohanoihifi.com

Concept Wood chất lượng

Thân hộp kim được làm từ hợp kim nhôm và Magnesium, sau đó bọc một lớp gốm để chống nhiễu âm rung động ở tần số cao. Kim Clearaudio Concept lột tả suất sắc âm thanh cân đối và rõ ràng. Có 3 lựa chọn trải nghiệm Concept Wood. chọn ra “dữ” là cho nó chạy với phono pre Aesthetix Rhea. ưa chuộng “hiền” là cho nó chạy với phono pre rẻ tiền Pa1.2 của Music Hall và thường thường là áp dụng mạch phono của Amly đèn Rogue Audio Cronus Magnum. 




Dây tín hiệu của Concept Wood từ cần Verify được đấu vào phono pre rồi dẫn dây tín hiệu Synergistics Research Basik Activ SE từ phono pre vào ngõ Aux của Amply đèn Rogue Audio Cronus Magnum. Có hai cặp loa được sử dụng để trải nghiệm là Images dán Grey dB10.6 (110W, 8Ohm, 93dB, chơi với Magnum) và Living Audio CE 1-ac (50W, 8Ohm, 101dB chơi với Âm ly 300B Separo). Bộ đĩa than chính sử dụng để trải nghiệm là Box 2 LP (Long Play – đĩa than 33 1/3 vòng mỗi phút) Handel – The Sonatas for Flute (Complete) do Paula Robison (sáo) và Kenneth Cooper (harpsichord), Timothy Eddy (cello) diễn tả. Box 2 LP ghi 10 sonatas cho sáo, harpsichord và cello, tung ra 5 1978 ở Mỹ. Thập niên 70 là thời đại vàng của đĩa than. Những đĩa bán ra thời gian này thuần analogue từ thu thanh, biên tập đến đúc đĩa, khác với các đĩa than thời nay thường bị số hoá ở khâu thu thanh. Cả ba nghệ sĩ trong Box 2 LP này đều trình tấu điêu luyện, lôi cuốn. Nghe họ bằng mâm Concept Wood rất rõ ràng: vừa tách bạch (nghe thấy từng người trong mọi thời điểm) vừa hoà quyện (luôn nghe thấy cả 3 người khi họ cùng chơi, ko cần phải nghe nhiều lần theo kiểu mỗi lần chăm chú nghe vào một người như ở một số trình diễn thông thường). 




Trải nghiệm bắt đầu từ nghe Concept Wood với Aesthetix Rhea, sau đó với Music Hall pa1.2 và nghe trực tiếp bằng mạch phono của Magnum. Mỗi lần “xuống” đều có cảm giác hụt hẫng nhưng ko tệ, chứng tỏ mâm đĩa than Concept Wood “kiên cường” giữ chất lượng biểu diễn. Khi chơi với pa1.2, dây Synergistics Research Basik Active SE chạy vào Amplifier khiến giải pháp này có chút Ưu thế cải thiện âm thanh của dây tín hiệu quý (giá xem qua 700USD, khoảng 14,5 triệu đồng). Nếu áp dụng dây tín hiệu thường, phương án sử dụng qua pa1.2 và cho chạy thẳng vào mạch phono của Ampli Magnum là ngang nhau. Sau đó, sơ đồ nghe được đảo ngược, “tiến dần lên” nghe lại với Aesthetix Rhea. Nhiều audiophile cho rằng, để có một chất âm quyến rũ, đầu tư vào mâm và đĩa than nhanh đến đích hơn là đầu tư vào máy CD và đĩa CD. 1 đầu quay CD giá khoảng năm đến 7 nghìn USD chưa chắc đã cho chất âm hay hơn Concept Wood, mặc dù so sánh này khập khiễng vì chơi đĩa than “nhiêu khê”, mất công hơn chơi CD nhiều.


Xem thêm tại : 

amthanhhifi.com   audiohanoi.com   audiohanoihifi.com

Dịch vụ tốt nhất trên Sonos: Google Play Music All Access

Mặc dù Spotify ko dẫn đầu trong chất lượng âm thanh, nhưng khách hàng vẫn ngày càng có nhiều ấn tượng tốt về dịch vụ này. Và các ca khúc bảo đảm được ghi âm 1 cách nghiêm ngặt sẽ lần lượt chiếm Lơi ích trong kho dữ liệu của Spotify. hỗ trợ trên một loạt các thiết bị và có các danh sách nhạc gợi ý ấn tượng, giúp cho Spotify trở thành một dịch vụ chưa thể bị đánh bại. Dịch vụ có chất lượng âam thanh tốt nhất: Qobuz Nhằm mục đích tạo vị thế cho mình về mặt âm thanh chất lượng cao, Qobuz cung cấp các ca khúc FLAC ở mức 16-bit/44.1kHz. Và công ty này đã thiết kế một dịch vụ đáng tin cậy dành cho những khách hàng cần độ chân thật trên hầu hết các tiêu chí khác. 




Tất nhiên, các bạn sẽ phải trả tiền tác quyền để sử dụng; mức phí là 34.25 USD mỗi tháng cho các bản nhạc FLAC chất lượng “Qobuz Hi-Fi” – gấp cặp so với hầu hết các dịch vụ khác. Tuy vậy, tin tốt là chất lượng âm thanh của Qobuz đều nhỉnh hơn các đối thủ gần nhất của nó. tích hợp phần nhiều đầy đủ các nền tảng chất liệu Android, iOS và Windows 8, cộng với PC và Sonos, trong khi thư viện 14 triệu ca khúc là chấp nhận được, mặc dù vẫn chưa đầy đủ, thiếu một lượng album nhất định so với các dịch vụ đối thủ. một số chức năng Qobuz đã làm rất tốt để bắt kịp với xu thế và đề nghị của người nghe, nhưng còn hạn chế trong Đó là chức năng chọn lựa với các gợi ý dựa trên sở thích của người nghe, được cung cấp thất thường và khá ít. Mặc dù còn một số phàn nàn về dịch vụ khi cao cấp âm thanh mới chỉ thật sự đạt đến mức CD và quý vị đã trả tiền để sử dụng nó, nhưng bằng những kiểm nghiệm khách quan, chất lượng trực tuyến gần tương đương với hi-fi là một mức đáng để quý khách trải nghiệm. Dịch vụ tốt nhất trên Sonos: Google Play Music All Access Mức phí dịch vụ từ 17.12 USD/ tháng Google Play Music cung cấp 1 thư viện nhạc lớn, có khả năng nghe offline, hỗ trợ nền tảng rộng và cao cấp âm thanh khá ấn tượng – Đây là một trong số dịch vụ tốt nhất với tùy chọn 320kbps. quý vị có khả năng chọn ra nhạc trực tiếp từ Google Music. sử dụng/ của Google Play Music thích hợptương thích tốt với Sonos, quý bạn còn có thể tạo 1 thư viện nhạc riêng cho mình lên đến 20.000 bài hát. 





Google sẽ quét thư mục âm nhạc của quý khách, từ các bản nhạc đó Google sẽ tìm các bản sao chép trên đám mây và cung cấp cho quý vị một truy cập vào tất cả thư viện của mình thông qua máy tính để bàn và di động di động. bạn cũng có khả năng stream nhạc trực tiếp từ ứng dụng Google Play tới loa Sonos, Đây là sử dụng/ âm nhạc đầu tiên cho phép thực hiện một ưu dụng Do đó. Có một số điểm trừ nhỏ về mặt hiệu suất và đặc tính chia sẻ qua mạng xã hội cũng như khả năng khám phá các kiến thức âm nhạc vẫn chưa được tốt như trên các dịch vụ khác, nhưng Đây là một nỗ lực vững chắc mà chúng tôi nghĩ rằng sẽ giữ sức hấp dẫn đặc biệt đối với người chơi Sonos. Dịch vụ stream nhạc giá trị nhất: Deezer Là một người dùng Việt Nam, chúng ta có khả năng làm quen với Deezer. Dịch vụ này khá ấn tượng khi cung cấp tới 182 quốc gia, hơn ba lần số lượng các quốc gia mà bạn sẽ tìm thấy ở Spotify.


Xem thêm tại : 

amthanhhifi.com   audiohanoi.com   audiohanoihifi.com

Đặc điểm “đáng tiền” của chiếc Magnepan 1.7

Tuy nhiên, không nhất thiết phải sử dụng Amly “cơ bắp” mới có thể khiến Magnepan hát hoặc. Trao đổi với các kỹ sư của Magnepa tôi được biết có thể áp dụng Âm li công suất chỉ vài chục watt mà vẫn đem tới sức sống cho các đôi loa mành to lớn của họ. Với mong muốn khai thác âm thanh có độ uyển chuyển nhất định, tôi sử dụng Âm ly đèn của Rogers (Anh). Là Amly tên tuổi, Rogers Ea có công suất 40 W/kênh, sử dụng mạch class A với 8 bóng 6L6. Chúng tôi từng bán ra đến độc giả Ampli này qua bài viết với đôi loa test Rogers LS3/5a 15ohm. 



Phần nguồn phát là đầu đọc CD/HDCD SFCD 1 của Sonic Froniter (Canada). CD này khá đặc biệt với tầng xuất âm bằng đôi đèn ba cực kép 6922 và bộ giải mã UltraAnalog D20400A cho âm thanh đậm chất analog. trong các ngày đầu tiên, âm thanh của cặp loa ko thật ấn tượng, thậm chí khá mỏng, gần như không có âm trầm và không gian ko rộng như thường thấy ở các cặp loa mành. Sau 1 tháng chạy rà, âm thanh dần ổn định. Sau ba tháng với khoảng 60 giờ chạy rà, tôi thực sự hài lòng với màn trình diễn của cặp loa. Hóa ra Magnepan cũng ko khó “trị” như nhiều người tưởng. Chỉ với 40W của Rogers, đôi loa đã được thổi hồn và có màn phô diễn đầy sức sống. Đúng như kỳ vọng của tôi về cặp loa, Đặc điểm “đáng tiền” đầu tiên là hội trường âm thanh cực rộng. cặp loa hoàn toàn biến mất trong phòng nghe để nhường chỗ cho hội trường âm nhạc hoành tráng. Do Tính năng phát âm cả 2 mặt, nên hiệu ứng nhạc sống được diễn tả khá rõ âm, đặc biệt với các bài hát giao hưởng và hòa tấu nhạc cụ. Lẽ tự nhiên, nhạc cụ tỏa âm theo góc rộng đều xung quanh, Magnepan 1.7 cũng theo nguyên tắc này. Sau 3 tháng nghe nhạc từ Magnepan một.7 tôi không thể tưởng tượng nổi cặp loa với giá bán trên hai.000USD lại có khả năng tái hiện hội trường âm thanh lớn và sống động đến thế! Tính năng này thường chỉ thấy ở những cặp loa lớn của Wilson (Salsa, Sophia…), JM Labs (utopia…) hoặc Avalon (Transcendent, Indra…) có tầm giá từ hai chục nghìn USD trở lên. Với đĩa nhạc Faro (GLM Record) gồm hai nhạc cụ tấu cello (Fany Kammerlander) và acoustic guitar (Rober Wolf), tiếng cello căng đầy với âm sắc ấm áp mượt mà và mộc mạc phối hợp với tiếng đàn guitar thùng dây ni-lon cho âm thanh óng ả, mênh mang.





 Cả hai nhạc cụ này hòa thanh tạo nên bức tường âm thanh lấp đầy bộ nhớ xung quanh cặp loa lớn, tạo nên “ảo giác” về nhạc sống rất rõ âm. dĩ nhiên, để đạt được cảm xúc Vì vậy, tôi phải đẩy âm lượng của Ampli lên mức khá lớn (ngưỡng 12h). Tuy âm thanh lớn, nhưng vẫn êm, không có biểu hiện căng cứng, méo, gắt ở mọi dải âm, đem đến trải nghiệm “sống” cho âm thanh tái tạo. Với Magnepan một.7 tôi có cảm xúc âm thanh được thiết lập/ khá tuyến tính, liền lạc giữa các dải tần, từ thấp đến cao. Nhờ đó, âm thanh của dàn nhạc hay nhạc cụ có quãng âm rộng như piano được tái hiện chính xác. Tuy nhiên, với Ampli đèn công suất hạn chế, khó có khả năng đòi hỏi Magnepan một.7 tái hiện những âm trầm hoành tráng, có lực như khi đôi loa này được đánh dấu bằng loại bán dẫn công suất lớn.


Xem thêm tại : 

amthanhhifi.com   audiohanoi.com   audiohanoihifi.com

Thứ Ba, 11 tháng 4, 2017

Bergmann - Những nốt piano đạt được độ động cao

Chúng tôi tự quyết cho bản thu 1812 Overture của Telarc do Erich Kunzel và Cinicinnati Symphony Orchestra trình bày, track “tử thần” có một đoạn “giật” tiếng trầm đột ngột (thu từ tiếng bắn đại bác thật) với cấu trúc rãnh đặc biệt tạo thành một khúc cua “cùi chỏ” mà rất nhiều các thiết kế cần tay nổi tiếng phải “bỏ cuộc”. không nằm ngoài dự đoán, nhờ thiết kế tonearm đệm khí của Magne, cartridge đã lướt chính xác và nhẹ nhàng qua cấu trúc rãnh phức tạp này tạo nên những tiếng trầm lột tả được uy lực, đạt độ sâu “khủng” nhưng không bị nhòe mà rất nét tiếng.



Piano vẫn là nhạc cụ khó cho dù ở định dạng analog, các bộ kim và đầu đĩa than hi-end tuy diễn tả rất tốt độ mộc và tính chân thực nhưng rất hiếm khi giữ được độ vững và rõ rệt ở những nốt siêu trầm. Bergmann Magne cùng hệ thống Gryphon Audio phô diễn bản thu Improvisation – Bruce Davidson, trích trong LP có thương hiệu với nhiều giải thưởng thu âm lớn Chasing The Dragon do Mike Valentine hòa âm, một cách đầy thuyết phục. Những nốt piano đạt được độ động cao, dải tần mở và điều mà chúng tôi đáng ngại về những nốt trầm bị mất nét đã không xảy ra với Magne mà thay vào Đây là những âm tần số thấp rất dầy và tỏa rộng trong bộ nhớ. một Ưu điểm đáng já của Bergmann Magne mà chúng tôi tình cờ phát hiện được trong quá trình phát 1 số các LP Rock xưa như Gold Ballads (Scorpions), News of The World (Queen), Machine Head (Deep Purple) Đó là khả năng sản phẩm bỏ Các loại nhiễu tạp âm. Những tiếng nổ, sạn trong số đĩa LP cũ khi phát trên Magne được giảm đáng kể. Bergmann Audio Magne chi tiết không có đối thủ ở mức giá tương đồng, diễn đạt qua hàng loạt các giải thưởng “Turntable Of The Year” cũng những trải nghiệm với nhiều track thử phức tạp ở nhiều tiêu chí Đánh giá khác nhau. Phải “tải” 1 loạt các công nghệ đệm khí phức tạp cho platter và đặc biệt là tonearm tuy nhiên mâm Bergmann vẫn giữ được bề ngoài ngoài tinh vi, nhẹ nhàng và thiết yếu hơn là sự tiện dụng trong quá trình thiết kế và áp dụng. 




Đây có lẽ là điều làm chúng tôi nể phục nhà thiết kế Johnnie Bergmann hơn hết khi so các tác phẩm của ông với những nhãn hiệu có sử dụng công nghệ đệm khí như như Kuzma, TechDAS, Zorin, The Cartridge Man… , những cỗ máy rườm rà, phức tạp giống với một chất liệu cơ khí kỹ thuật hơn là một món đồ chơi dành cho audiophiles. thông số kỹ thuật: Mâm platter: Nhôm, đệm khí Tonearm: bổ sung/, sử dụng đệm khí Truyền động: Belt-drive Kích thước: 440 x 495 x 3165mm Trọng lượng: 18,5kg



Xem thêm tại : 

amthanhhifi.com   audiohanoi.com   audiohanoihifi.com